Nguyễn Mộng Tuân, tự Văn Nhược, hiệu Cúc Pha, sinh năm 1380-?[1], quê ở xóm Chằm, làng Viên Khê, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; đỗ Thái học sinh, kỳ thi năm Canh Thìn (1400), tháng 8 mùa thu, đời nhà Hồ. Đầu đề bài thi là “Linh Kim Tàng Phú” hỏi về chuyện Hán Cao tổ (Lưu Bang bên Trung Quốc) có cái kho chứa gươm.
[1] Theo cuốn “Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo” do Phan Huy Ôn (1755 – 1786) biên tập va Phan Huy Sáng (1764 – 1811) định chính: khi đỗ Thái học sinh ông mới 21 tuổi.
TÌNH BẰNG HỮU NGUYỄN MỘNG TUÂN – CÚC PHA

Bức họa bài thơ của Cúc Pha “Hạ thừa chỉ Ức Trai tân cư”, tác giả: Đăng Văn, 2019
Thời nhà Hồ, ông lui về ở ẩn. Khi khởi nghĩa Lam Sơn, ông tìm đến Lê Lợi và được Lê Lợi tin dùng và trọng dụng. Sau đại thắng quân Minh ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ban thưởng cho tướng sỹ có công, Nguyễn Mộng Tuân được phong tước Á Hầu giữ chức Khu Mật Đại Sử. Đến thời Lê Thái tông (1434-1442), ông giữ chức Trung thư lệnh và Đô úy. Sang đời Lê Nhân tông (1442-1459), ông giữ chức Tả nạp ngôn, Thượng khinh xa Đô úy, Tri quân dân Bắc đạo; Nguyễn Mộng Tuân cùng với Lê Thụ đi đánh Chiêm Thành, thắng lợi trở về được ban tước Vinh lộc Đại phu.
Nguyễn Mộng Tuân, là tác giả của Cúc Pha tập (143 bài), là tác gia để lại số lượng phú lớn nhất (41 bài) trong văn học cổ Việt Nam[1]; về văn bia ông soạn 1 bài trong Thanh Trù – Quan Liệt Chu thị di thư, và Trịnh Khả Bia ký (ở xã Vĩnh Hòa, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa), ông là tác giả của làn điệu dân ca Đông Anh ngày nay[2]. Nguyễn Mộng Tuân tham gia giám khảo các kỳ thi Tiến sĩ khoa Nhâm Tuấn (1442), khi đó là Trung Thư Sảnh, Trung Thư Thị Lang; và kỳ thi năm Mậu Thìn (1448) - Môn hạ sảnh Tả ty Tả nạp ngôn Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch. Nguyễn Mộng Tuân từng tiếp các đoàn sứ bộ của các nước, đặc biệt ông còn được mời vào dạy vua học ở tòa Kinh Diên, được vua trọng ban cho lễ ưu đãi tuổi già.
Nhìn lại cuộc Đời và sự nghiệp của Nguyễn Mộng Tuân, ông là bậc khai quốc công thần có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ vương triều Lê Sơ, cũng như việc đóng góp của ông vào sự lên ngôi của Nho giáo trong triều đại Lê Sơ. Nguyễn Mộng Tuân vừa là danh nho, vừa là một võ tướng, vừa là nhà chính trị có tầm nhìn xa, trông rộng: “Cây bút bằng năm vạn quân”, và ông ngõ ý khuyên với vua rằng chỗ dựa vững chắc nhất chính là dân, (lấy dân làm gốc); bởi vậy ông khắc họa hình ảnh: Quân chu (vua là thuyền), Dân thủy (dân là nước) để nhắc bậc quân vương. “Chở lật mới hay cốt ở dân; Thuyền to ắt cậy đến hiền thần”; ông khôn khéo nhắc nhở bạn đồng môn, đồng nghiệp khi biết nhà Lê không còn muốn trọng dụng Nguyễn Trãi nữa “Mang rượu đến ông cùng thưởng thức, Say theo người! Chớ tỉnh riêng ta”[3] trong bài “mừng nhà mới của Thừa chỉ Ức Trai”, tác giả Nguyễn Mộng Tuân. Một trung quân ái quốc, một đại thần trong suốt ba đời vua từ Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông; đây là một trong những trường hợp ít thấy đối với một khai quốc công thần thời Lê Sơ; một triều đại gắn liền với tiếng chê muôn thuở “Thỏ chết, cung treo”. Trong thời buổi mà các công thần giữ được tính mạng trong quan trường không chỉ bằng tài năng đức độ, mà còn phụ thuộc vào mệnh trời. Vẫn biết, Nguyễn Mộng Tuân là một đại thần, giữ trọng trách lớn của đất nước, là người cương trực, khẳng khái vì lợi ích của nhân dân và quốc gia đại sự, thì nguy hiểm càng đe dọa nhiều đến bản thân. Phải chăng Nguyễn Mộng Tuân đã sống hài hòa với các mối quan hệ xã hội, hòa hợp với quy luật của trời đất, nên đã trường thọ suốt ba đời vua.
Nhưng lòng người khó lường, pha lê không thể để lẫn lộn với gạch đá; cuối Đời Nguyễn Mộng Tuân không tránh được hậu họa[1].
“…Tể thần như Lê Sủng, Lê Sát thì ngu si không phân biệt sáu loại súc vật, Chưởng binh Lê Điên, Lê Luyện, thì mù tịt, chẳng sao hiểu được bốn mùa một năm. Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi, người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thì đẩy vào vòng tai họa. Oan uổng không chỉ kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát. Văn giai như Công Soạn tuổi gần tám mươi, tể thần như Lê Ê không biết một chữ. Bọn trẻ không biết nghĩ, làm bậy ngông cuồng, người già chẳng chết đi, trở thành mối họa, Bán quan mua kiện, ưa giàu ghét nghèo…” (Trích Đại Việt Sử Ký toàn thư, bản kỷ thực lục Q1, Đời hậu Lê (1433 – 1459)
Sau biến cố lịch sử đó, con cháu Nguyễn Mộng Tuân đã chuyển về Kẻ Rị sinh sống, vùng đất địa linh nhân kiệt, để hương khói ngàn thu.
Từ đường họ Nguyễn, được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa tại Quyết định số 78/QĐ-VHTT ngày 08/02/2001 của Giám đốc Sở Văn Hóa – Thông tin tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 13/12/2011, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa trao Bằng Di tích Lịch sử - Văn Hóa tại Quyết định số[2] 4136/QĐ-UBND thay thế Quyết định số 78/QĐ-VHTT. @Trần Thị Hiên, Phòng Văn hoá - Xã hội
Tài liệu tham khảo:
- ĐVSK Toàn Thư;
- Văn bia khoa thi năm Nhâm Tuất (1442), Mậu Thìn (1448);
-Văn bia Đông Sơn;
-Văn bia Trịnh Khả - Người Soạn: Nguyễn Mộng Tuân;
- Tiểu sử và tác phẩm của Cúc Pha - Nguyễn Mộng Tuân, tác giả Nguyễn Kim Măng (Viện Hán Nôm);
-Nguyễn Trãi trên đất Thanh Hóa, tác giả GS.Vũ Ngọc Khánh
[1] Theo cuốn “Thiên Nam lịch triều liệt truyện đăng khoa bị khảo” do Phan Huy Ôn (1755 – 1786) biên tập va Phan Huy Sáng (1764 – 1811) định chính: khi đỗ Thái học sinh ông mới 21 tuổi.
[2] Bức họa, tác giả Đăng Văn (Nguyễn Đăng Văn), sinh năm 1955, Phượng Đình 2, P. Tào Xuyên, TP. Thanh Hóa, ông là nhà thư pháp, họa, điện ảnh, nhiếp ảnh… nỗi tiếng Xứ Thanh.
[] Theo Hà Minh, Giảng viên ĐHSP Hà Nội công bố trên Tạp chí Hán Nôm, số 4(77), 2006; Tr.74-77. Tác giả phát hiện và chụp được từ Bản sao Toàn Việt Thi Lục ở Trung Quốc
Tại Quyển 8: từ trang 477 đến trang 556. Chép thơ của các tác giả triều Lê từ Nguyễn Mộng Tuân, gồm 4 bài cổ thể, 177 bài cận thể, cộng 181 bài.
[4] Theo các cụ làng Viên Kê kể lại, theo nhà nghiên cứu Văn Hóa lịch sử Xứ Thanh Phan Bảo.
[5] Dịch thơ: Trần Thanh Mại
[6] Sách Lịch triều hiến chương loại chí cho biết, đời nhà Hồ ông ở ẩn náu, không ra làm quan. Đến đầu Lê, Thái tổ “ông là người ẩn dật còn sót lại, triệu ra làm Tư nghiệp Quốc tử giám, thăng chức Tế Tửu (hiệu trưởng), được vua trọng vọng, ban cho lễ ưu đãi tuổi già”.
[7] Bằng Công nhận Di tích LS-VH tại Quyết định số 4136/QĐ-UBND thay thế Quyết định số 78/QĐ-VHTT do thay đổi cách quản lý: Trước đây là Quyết định do Giám đốc Sở Văn Hóa Thể thao và Du lịch ký nay đổi thành Bằng, và do Chủ tịch UBND tinhr quyết định.